Sự dẫn truyền thần kinh yếu hơn ở trẻ sinh non

Thứ năm - 07/04/2016 20:14
Hai nghiên cứu mới cho rằng việc thay đổi ở những kết nối trong sự phát triển của não bộ có thể tiềm ẩn các bệnh lí tâm thần kinh và rối loạn vận động liên quan đến sanh non.
Sự dẫn truyền thần kinh yếu hơn  ở trẻ sinh non

Một nghiên cứu cho thấy ở trẻ sanh non, các vùng não liên quan đến sự chú ý, giao tiếp và phát triển cảm xúc sẽ có mối liên kết yếu hơn về mặt cấu trúc và chức năng; điều này có thể góp phần giải thích việc tăng nguy cơ của các bệnh lí như Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) và nhóm bệnh tự kỉ (ASD).

Một nghiên cứu khác cho rằng các rối loạn vận động đi kèm với tình trạng sanh non có thể do sự thay đổi tính kết nối của bộ não được phát hiện trước sinh.

Những kết quả này “minh họa cách mà cấu trúc và chức năng của bộ não cực kì nhạy cảm với các tình trạng trước sinh cùng với sự thay đổi vòng dẫn truyền của não bộ có thể dự đoán những bất thường về thần kinh trước khi chúng xuất hiện”, theo như BS Jay N. Giedd, trưởng khoa tâm thần học trẻ em và vị thành niên ở Đại học California San Diego, ông đã chủ biên một bài báo vào ngày 18 tháng 10 mà trong đó các nghiên cứu này được thảo luận. “Những khám phá mới này một ngày nào đó có thể giúp giảm gánh nặng do các bất thường về thần kinh xuất hiện sớm”.

Kết quả được trình bày ở Hội nghị thường niên năm 2015 của Hiệp hội Khoa học thần kinh (SfN).

Hệ thống dẫn truyền não bộ bị ảnh hưởng chủ yếu

Sanh non là một stress sớm trong đời sống ảnh hưởng lên 1 trong mỗi 9 trẻ sơ sinh tại Hoa Kì. Sinh non đi kèm với biến đổi trong sự phát triển chất xám và chất trắng của não bộ, với các bất thường trong tăng trưởng và tăng nguy cơ bệnh lí tâm thần gồm ASD, ADHD và rối loạn lo âu.

Để hiểu rõ hơn về hậu quả của sanh non lên sự phát triển, BS Cynthia Roger từ khoa Y, đại học Washington, Missouri và các đồng nghiệp đã sử dụng MRI chức năng lúc nghỉ (fMRI) và hình ảnh học lan tỏa (DTI) để so sánh não của 58 trẻ sinh đủ tháng (>37 tuần tuổi thai) với 76 trẻ sơ sinh sinh non (<30 tuần tuổi thai) nhưng không có tổn thương não đáng kể. Các trẻ sinh đủ tháng được kiểm tra về hình ảnh học vào ngày thứ 2 hoặc thứ 3 trong đời, trong khi những trẻ sinh non được kiểm tra gần ngày dự sinh.

So với nhóm sinh đủ tháng thì nhóm trẻ thiếu tháng có sự biến đổi lớn về chức năng ở các bó chất trắng trên DTI. “Các trẻ sinh non có chất trắng vừa kém phát triển vừa không trưởng trành khi so sánh với nhóm trẻ sinh đủ tháng”, BS Rogers giải thích.

“Mặc dù hiện tượng này xảy ra trong toàn bộ chất trắng nhưng chúng tôi cảm thấy rất thú vị ở chỗ những bó thần kinh chúng tôi biết rằng chúng kết nối những vùng liên quan đến sự chú ý và cảm xúc bị ảnh hưởng nặng nề ở trẻ sinh non”, bà cho biết.

Trên fMRI cũng thấy chức năng của các kết nối yếu hơn ở trẻ sinh non, quan sát được rõ nhất ở hệ thống chế độ mặc định (P=0.001), “một trong những hệ thống xã hội và cảm xúc”, và hệ thống trán thái dương (<0.001), “một trong những hệ thống tập trung chính”, Dr Rogers phát biểu. “Những hệ thống cho thấy bất thường ở trẻ em ADHD và tự kỉ, khiến chúng tôi tự hỏi đây có phải là lí do trẻ sanh non có nguy cơ cao mắc các bệnh lí này hay không”.

Sắp tới, các nhà nghiên cứu sẽ cố gắng tìm mối liên hệ trực tiếp của các kết quả hình ảnh học ở các trẻ mới sinh này với các triệu chứng tâm thần kinh bằng cách tiếp cận trẻ trước và trong độ tuổi đi học. Họ cũng sẽ thực hiện khảo sát hình ảnh học não bộ lặp lại để xem xét mối liên hệ bất thường lúc sinh có thay đổi khi trẻ lớn lên hay không và bằng cách thức nào.

Nguồn gôc của bất thường vận động

Nghiên cứu còn lại cho rằng nguồn gốc của bất thường vận động ở trẻ sanh non có thể phát hiện qua những sự thay đổi dẫn truyền não bộ hiện diện trước sinh.

Tiến sĩ Moriah Thomason từ Đại học Wayne State, Detroit, Michigan và cộng sự nghiên cứu ở những phụ nữ mang thai, một vài người có nguy cơ cao sinh non trong khi có người mang thai bình thường. Họ sử dụng fMRI lúc nghỉ để đo lường chức năng của não bộ thai nhi trong tử cung ở 18 thai sinh trước 37 tuổi và 18 thai sinh đúng ngày.

Họ phát hiện thai sinh đúng ngày có mức độ dẫn truyền chức năng cao hơn ở vùng “chồi” vận động của não khi so với thai sinh non tháng, điều này gợi ý những vùng này phát triển hơn ở trẻ sinh đủ tháng theo như BS Thoason.

Sự khác nhau giữa trẻ sinh đủ tháng và sinh non lớn nhất ở những vùng não xa nhau, cho thấy những bộ não ở trẻ sinh non có thể có “chậm phát triển các mối liên hệ ở vùng xa”, bà giải thích ngắn gọn; sự phát triển chậm trễ này có thể tiềm ẩn rối loạn vận động ở trẻ sinh non. Những số liệu này “ủng hộ ý kiến rằng sinh học của bộ não trẻ sinh non khác biệt ngay cả trước khi sinh” và gợi ý khả năng can thiệp trước sinh.

“Việc xác định sự thay đổi trong hệ thống thần kinh lúc trước sinh sẽ cung cấp hiểu biết xa hơn trong sự phát triển của bộ não trẻ sinh non hướng đến các phương pháp mới ngăn ngừa và điều trị những kết nối thần kinh không bình thường ở nhiều trẻ sơ sinh có chậm phát triển”, BS Thomason nói thêm tại buổi hội thảo.

BS Giedd, người có nghiên cứu tập trung vào sự trưởng thành và phát triển não bộ do chúng liên quan đến sức khỏe và bệnh tật lưu ý rằng “trong suốt thời gian dài người ta đánh giá cao những can thiệt sớm có thể cho kết quả tốt nhất”.

Nghiên cứu này ủng hộ “can thiệp sớm là chìa khóa vấn đề” và trình bày một vài “hoạt động tốt nhất đang diễn ra ở lĩnh vực này và tiềm năng khổng lồ cải thiện cuộc sống cho những người trẻ và gia đình họ”.

Những nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của “kết nối trong não bộ và kết nối qua thời gian”, BS Giedd.

Trong nhiều năm, khoa học thần kinh tìm kiếm “lỗ hổng” trong bộ não và điều đó “kiểu như không dẫn đến đâu. Bây giờ tất cả đều nói về sự dẫn truyền. Mọi thứ kết nối như thế nào? Đó là sự thay đổi lớn nhất trong một vài năm gần đây và là dấu hiệu mới mẻ cho công cuộc này. Vấn đề ở chỗ chúng ta vẫn không biết rõ cách nào để thay đổi vòng dẫn truyền trong não? Chúng ta có thể thực hiện qua trò chơi điện tử, luyện tập, thiền, yoga, chế độ ăn? Việc thay đổi những vòng dẫn truyền là tốt hay xấu? Đây là việc trong thập kỉ tới nhưng việc đo lường những kết nối này đã được bắt đầu. Quả thật rất phấn khích”, BS Giedd phát biểu.

Nghiên cứu bởi BS Rogers và các cộng sự đã được ủng hộ bởi Viện sức khỏe tâm thần quốc gia, Viện bệnh lí thần kinh học và đột quị quốc gia, Viện sức khỏe trẻ em và phát triển quốc gia, Trung tâm khoa học thần kinh hệ thống McDOnell, Tổ chức thần kinh học nhi, Tổ chức nghiên cứu liệt não quốc tế, và Tổ chức Dana. Nghiên cứu của BS Thomason và các cộng sự được ủng hộ bởi nhánh nghiên cứu chu sinh của Viện sức khỏe trẻ em và phát triển quốc gia, Viện khoa học sức khỏe môi trường Hoa Khì. Không có nghiên cứu nào có bất cứ liên quan về quan hệ tài chính.

 

Tác giả bài viết: Phùng Huy Hoàng

Nguồn tin: www.medscape.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Hội viên
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây