Kích ứng oxi hoá và chức năng sinh sản nữ

Thứ ba - 26/09/2017 18:38
Kích ứng oxy hoá là kết quả của sự mất cân bằng giữa tiền tố oxy hoá và chất kháng oxy hoá. Đó là một sự mất cân bằng giữa sự sản xuất và hoạt động của các hình thái oxy hoạt tính và khả năng của cơ thể sống trong việc khử các chất trung gian hoạt tính cao hay sửa chữa các hư hại do những chất này gây ra.
Kích ứng oxi hoá và chức năng sinh sản nữ
Sự nhiễu loạn của trạng thái oxy hóa khử của các mô có thể gây ra các ảnh hưởng độc hại thông qua sự sản sinh của các peroxide và các gốc tự do (free radicals)  làm hư hại tất cả các thành phần của tế bào, trong đó bao gồm protein, chất béo và DNA. Một số hình thái oxy hoạt tính có vai trò như các chất báo hiệu trong một hiện tượng gọi là sự báo hiệu oxy hóa khử. Tỉ lệ này có thể thay đổi khi tăng lượng chất hoạt động có chứa oxy (reactive oxygen species – ROS) và/hoặc chất hoạt động có chứa nitơ (reactive nitrogen species – RNS) hoặc suy giảm trong cơ chế bảo vệ chất kháng oxy hoá.(Al-Gubory et al., 2010, Burton and Jauniaux, 2011).

Hầu hết các ROS được hình thành qua chuỗi hô hấp của ti thể, nhưng cũng có thể được hình thành bởi các tác nhân bên ngoài như rượu, khói thuốc lá, và các chất ô nhiễm môi trường. Chất chống oxy hóa (bao gồm cả vitamin C và E) và đồng yếu tố chống oxy hóa (như selen, kẽm, và đồng) có khả năng xử lý, dọn dẹp, hoặc ức chế sự hình thành ROS. Đã có những bằng chứng cho thấy vai trò của các chất kích ứng oxy hóa trong hiếm muộn nam, bao gồm tác động làm giảm khả năng di động của tinh trùng, số lượng tinh trùng, và sự thụ tinh giữa tinh trùng và trứng.(Sharma and Agarwal, 1996).

Ở phụ nữ, một số nghiên cứu ở cho rằng sự kích ứng oxy hóa có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, nhưng các mối liên hệ đã không trực tiếp đề cập ở phụ nữ đang cố gắng mang thai. 

Chất chống oxy hóa và vitamin bổ sung

Chất chống oxy hóa tác động lên ROS ở cả động vật và ở người. Một lượng vừa đủ vitamin E có thể bảo vệ chuột khỏi các gốc tự do (Jordao et al., 2004) và khi cho chuột dùng vitamin E bổ sung đã cho thấy có sự giảm nồng độ của các peroxide trong nước tiểu (Sodergren et al., 2000). Ở phụ nữ trưởng thành, sử dụng trái cây và rau quả giàu chất chống oxy hóa có mối tương quan nghịch với tình trạng kích ứng oxy hóa (Djuric et al., 1998).

Hơn nữa, chất chống oxy hóa có vai trò quan trọng trong hệ sinh sản nữ. Gần đây các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến vai trò của ROS và men ngăn hình thành superoxide (superoxide dismutase - SOD), một trong các chất xúc tác phá hủy các gốc tự do chứa oxy. Những chất này được xem là thông tin thứ cấp điều chỉnh chức năng nội mạc tử cung (Sugino, 2007). Trước đây người ta đã biết rằng SOD tăng trong các tế bào mô đệm nội mạc tử cung của con người khi có màng rụng hoá và là một thành phần quan trọng trong quá trình làm tổ (Sugino et al., 2000). 

Khả năng chống oxy hóa của dịch nang trứng trong quá trình chọc hút trứng cũng có liên quan đến đặc điểm của thành công thụ tinh trong ống nghiệm (in vitro fetilization – IVF).Điều này bao gồm mối tương quan nghịch giữa ROS trong dịch nang trứng và chất lượng phôi, kèm theo tác động tích cực của ROS trên tỷ lệ phần trăm của sự hình thành phôi thai lên đến thermochemiluminescence 100 cps ở cấp II và cấp III tế bào trứng và tạo phôi giảm ở mức độ cao hơn. Công trình này hỗ trợ cho các nghiên cứu trước đó rằng tồn tại một ngưỡng chấp nhận của stress oxy hóa, khi mà trao đổi chất hoạt động tế bào diễn ra bình thường. Melatonin, đóng vai trò trong việc sinh sản của những động vật nuôi theo mùa, cũng biến đổi theo mùa ở các giai đoạn trước khi rụng trứng của con người. Melatonin và các chất chuyển hóa của nó liên quan đến những chất tiêu diệt gốc tự do và điều chỉnh phiên mã gen cho các enzym chống oxy hóa.

Một nghiên cứu gần đây giữa kích ứng oxy hóa và giảm chất lượng trứng ở những phụ nữ trải qua IVF và chuyển phôi. Nghiên cứu này chỉ ra rằng nồng độ 8-OHdG (một thước đo của quá trình oxy hóa DNA) trong dịch nang trứng lớn hơn đáng kể và có tỷ lệ cao (≥30%) thoái hoá tế bào trứng. Một tập hợp con của những phụ nữ không mang thai trong chu kỳ IVF chuyển phôi trước đó đã được dùng 3 mg melatonin mỗi ngày, 600 mg α-tocopherol (vitamin E) mỗi ngày, hoặc cả hai melatonin và α-tocopherol từ ngày thứ năm của chu kỳ kinh nguyệt trước đó cho đến ngày thu thập trứng. So với các chu kỳ IVF trước đó, ba phương pháp điều trị làm giảm đáng kể nồng độ trong dịch nang của 8-OHdG (P <0,05). Adduct Hexanoyl-lysine (một thước đo lipid peroxide) đã giảm đáng kể khi điều trị bằng α-tocopherol và α-tocopherol + melatonin, nhưng không giảm khi sử dụng melatonin đơn thuần.

Tóm lại, những kết quả này gợi ý rằng sự kích ứng oxy hóa tác động tiêu cực của tế bào trứng trưởng thành và bổ sung melatonin hoặc α-tocopherol có thể bảo vệ tế bào trứng tránh kích ứng oxy hóa.

Tác giả bài viết: Bs CKI Tăng Quang Thái

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Hội viên
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây